Ngược dòng lịch sử trước đây ba thế kỷ, giữa lúc xã hội Việt Nam đang trong thời kỳ suy vi, đen tối, phân tranh, hỗn loạn, vua chúa thoán đoạt tranh quyền tước vị lẫn nhau khiến cho muôn dân đồ thán. Lúc bấy giờ ở miền Trung có mấy vị Tổ sư người Trung Hoa, như Ngài Nguyên Thiều, Thạch Liêm v.v... đã đem ánh sáng Ðạo vàng chiếu rọi xứ này. Ngoài ra, chưa có vị Tổ nào liễu ngộ, xuất thân từ bản xứ. Chính lúc ấy tại dãi đất miền Trung, nơi núi cao, biển thẳm, đã xuất hiện một ngôi sao sáng. Ðó chính là Liễu Quán Tổ sư.


Ngài người tỉnh Phú Yên, sinh năm 1667. Năm lên 6 tuổi, mồ côi mẹ. Ngài xin cha vào tu ở chùa Hội Tông. Năm 13 tuổi, lặn lội ra Huế tìm thầy học đạo. Ðầu tiên, Ngài thọ học với Giác Phong Lão tổ ở chùa Báo Quốc. Ðược 11 năm, sau khi vừa xuống tóc chính thức xuất gia khoảng 1 năm, thì lại phải trở về Phú Yên, hằng ngày kiếm củi bán để nuôi cha già đang lâm bệnh nặng. Bốn năm sau khi cha mất, Ngài lại trở ra Huế, đến tham học Thiền với Tổ sư Minh Hoằng - Tử Dung, chùa Từ Ðàm. Tổ dạy tham cứu câu "Muôn pháp về một, một về chỗ nào?". Ngài đã tìm kiếm không phải trong sách vở, mà trong tự tâm thiền định của mình, trải qua tám, chín năm mà chưa tìm ra câu giải đáp. Một hôm, nhân đọc Truyền đăng lục, đến câu "Chỉ vật truyền tâm, chỗ người không hiểu", Ngài thấy trong tâm tỏa sáng và đã tìm được câu giải đáp, đem đến trình Tổ Tử Dung, Tổ lại dạy tiếp: "Hố thẳm buông tay, tự mình hứng lấy. Chết đi sống lại, chẳng ai dối ông được". Ngài vỗ tay cười. Tổ bảo: "Không phải vậy". Cứ như vậy đối đáp đôi phen, cuối cùng Ngài trình câu: "Sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi". (Có nghĩa: Sớm biết tâm là Phật, và tâm ấy đã thuần thục sáng ngời, chỉ chờ ấn chứng). Tổ Tử Dung rất bằng lòng, truyền tâm ấn cho.

     

Tổ sư Liễu Quán sau khi được Tổ Tử Dung truyền tâm ấn, Ngài lên ngôi Tổ vị, liền khai hội giáo hóa, xuất kệ lập thành pháp phái Liễu Quán.

" Thiệt Tế Ðại Ðạo

Tánh Hải Thanh Trừng

Tâm Nguyên Quảng Nhuận

Ðức Bổn Từ Phong "

Bằng lý tưởng độ sanh, Ngài đã vân du hóa độ đó đây. Từ kinh thành Phú Xuân đến Phú Yên rồi từ Phú Yên đến Huế, từ vua quan đến thứ dân, xã hội có bao nhiêu giai tầng là Ngài có bấy nhiêu ứng thân hóa hiện. Ánh sáng của tổ sư dần dần in đậm dấu ấn trên mọi nẻo đường quê hương, viết nên trang sử sáng ngời trong sự nghiệp xây dựng ngôi nhà lịch sử Phật giáo Việt Nam.

      Khi đất nước được mở rộng về phương Nam thì đã có rất nhiều vị danh Tăng mang pháp danh theo dòng kệ pháp phái Liểu Quán đi theo dòng Nam tiến của dân tộc, đem chánh pháp truyền đến tận những vùng xa xôi của tổ quốc, và cũng chính những vị này theo dòng phù sa, đã gieo trồng chánh pháp trong lòng người dân hiền hòa, trung hậu khắp vùng đồng bằng châu thổ.
           

Trước khi viên tịch vào tháng 12 năm 1742, Ngài viết bài kệ từ biệt:

"Hơn bảy mươi năm trong thế giới,

Không không, sắc sắc thảy dung thông,

Ngày nay nguyện mãn về quê cũ,

Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông"; và bảo với các đệ tử rằng: " Các vị xem đây. Tôi đến với cõi đời này giản dị biết bao nhiêu. Tôi sẽ ra đi trọn vẹn. Mai sau các vị áp dụng, thực hành Thánh hạnh, xin hãy cố gắng, chớ quên lời tôi dạy bảo ". Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban Thụy hiệu cho Ngài là « Chánh Giác Viên Ngộ Hòa thượng ».

Thi thể của Ngài được an trí nơi bảo tháp cạnh chùa Thuyền Tôn-Huế. Hiện nay ngôi tháp ấy đang biến thành hóa thân của Ngài, đang đứng uy nghi giữa rừng thông cổ thụ, nhìn ra dòng suối biếc, bốn mùa rào rạt chảy quanh, như nhịp mõ trường canh bất tuyệt, để tán tụng pháp thân. Trước tháp có hồ bán nguyệt thiên nhiên, nước bốn mùa trong xanh, phản chiếu hình ảnh ngôi tháp và rừng thông. Thỉnh thoảng vài làn gió nhẹ nhàng thổi đến làm cho nước mặt hồ gợn sóng lung linh.

Tương truyền rằng: Những năm tu khổ hạnh, thiền quán nơi đây, Ngài đã từng sống bằng rong dưới hồ. Chỉ chừng ấy công hạnh cũng đủ làm tấm gương sáng cho sau này, và thanh danh Ngài được truyền tụng lại thiên thu.

Ngài thuộc phái Thiền Lâm Tế Chánh tôn, đời thứ 35, theo pháp kệ thuộc giòng Lâm Tế, do Tổ Nguyên Thiều truyền xuống.

Ngài là Tổ khai sơn chùa Bảo Tịnh (Tuy Hòa), vừa là Tổ Khai sơn chùa Thuyền Tôn và chùa Viên Thông (ở Huế). Ngài cũng là vị Sơ Tổ của phái Thiền tông Trung Việt và Việt Nam được truyền bá đến ngày nay, gọi là phái Thiền tông Liễu Quán.

Kính thưa quý vị: Uống nước nhớ nguồn, tuy hôm nay huyễn thân của Ngài không còn trong hiện tại, nhưng hương đạo của Ngài vẫn phảng phất trong không gian, thắm đượm qua thời gian. Thật đúng với câu: Ðàm hoa lạc khứ hữu dư hương được tôn trí trước cửa tháp Ngài.

Dư hương ấy là tinh thần duy trì bản thân Phật giáo Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Hồng danh của Ngài được luôn luôn vang vọng bên tai và trong lòng của mọi người con Phật.

Mặc dầu hôm nay Tổ Sư khuất bóng đã xa, nhưng xin Ngài thùy từ chứng minh mặc hộ cho chúng con  là những người con Phật, con của Tổ xứng đáng trong Ðạo pháp.

 

 

Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán - 1425 Clayton Rd., San Jose, CA 95127
408-272-5765 - lieuquantemple@yahoo.com